Có quyền từ chối chia thừa kế cho con?

Câu hỏi:

Tôi muốn lập di chúc để lại tài sản cho các con vì không muốn sau này mình mất đi, chúng tranh giành tài sản. Tuy nhiên, tôi có đứa con trai út hay cãi cha mẹ lại không quan tâm gia đình thì tôi không cho. Mong Luật sư tư vấn.

Luật sư tư vấn:

Theo Điều 624, 626 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc và quyền của người lập di chúc: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

Người lập di chúc có các quyền: Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; Phân định di sản cho từng người thửa kế; dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

Như vậy, Ông hoàn toàn có quyền đoạt phần tài sản của mình, chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế và phân định di sản cho người thừa kế.

Tuy nhiên, theo Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó. Đó là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; con thành niên mà không có khả năng lao động. Điều này được hiểu nếu người con trai út đã thành niên, không mất khả năng lao động thì ông có quyền không để lại di sản cho con trai út.

Tuy nhiên, ông cần phải lưu ý các vấn đề về nội dung, điều kiện để di chúc hợp pháp nhằm tránh trường hợp di chúc được lập mà không được công nhận dẫn tới những tranh chấp không đáng có về sau.

Ví dụ: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép; nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

Nội dung của di chúc phải bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Ngày, tháng, năm lập di chúc; Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; Họ, tên người, cơ quan tổ chức được hưởng di sản; Di sản để lại và nơi có di sản; và các nội dung khác.

Ngoài ra di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc. Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.