Hướng ra nào cho vụ ‘xin thừa kế tinh trùng’?

Theo Nghị định 10/2015/NĐ-CP ngày 28-1-2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Theo khoản 1 điều 3 nghị định này: Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.

Tại khoản 1, điều 5: Người nhận tinh trùng phải là người vợ trong cặp vợ chồng đang điều trị vô sinh mà nguyên nhân vô sinh là do người chồng hoặc là phụ nữ độc thân có nhu cầu sinh con và noãn của họ bảo đảm chất lượng để thụ thai.

Khoản 2 điều 21 quy định: Trường hợp người gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi bị chết mà cơ sở lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi nhận được thông báo kèm theo bản sao giấy khai tử hợp pháp từ phía gia đình người gửi, thì phải hủy số tinh trùng, noãn, phôi của người đó, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người đó có đơn đề nghị lưu giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản.

Với các quy định này, khi anh T. chết, về nguyên tắc Bệnh viện Từ Dũ phải hủy bỏ 3 mẫu tinh trùng của anh T.. Do chị D. không phải là vợ hợp pháp của anh T. nên không có quyền quyết định các vấn đề liên quan đến 3 mẫu tinh trùng này. 

Còn bà Huyền dù là mẹ ruột của anh T. cũng không có quyền yêu cầu bệnh viện cho sử dụng 3 mẫu tinh trùng của anh T. do không thuộc đối tượng có quyền theo quy định pháp luật. Việc Bệnh viện Từ Dũ từ chối, không cho chị D. và bà Huyền có quyền sử dụng 3 mẫu tinh trùng là đúng chứ không sai.

Không phải mọi việc đã khép lại

Về lý, trường hợp xin sử dụng tinh trùng của chị D. và bà Huyền là khó, nhưng không phải mọi thứ đã khép lại.

Dù chị D. chưa phải là vợ chồng hợp pháp theo quy định pháp luật nhưng với những giấy tờ xác nhận hai người từng làm đám cưới, đã có thời gian dài chung sống và yêu thương nhau thực lòng… ít nhiều có cơ sở để xác định đây không thuộc trường hợp nhận tinh trùng vì mục đích lợi nhuận – nên không thuộc trường hợp bị cấm.

Mặt khác, theo bà Huyền và chị D., trước khi qua đời, anh T. có nguyện vọng được có đứa con nối dõi. Anh T. là con duy nhất của bà Huyền nên nguyện vọng này là chính đáng. Chị D. thể hiện sự tự nguyện sinh con cho anh T. là vấn đề mang tính nhân đạo, phù hợp với nguyên tắc cho và nhận tinh trùng được quy định tại khoản 3 điều 3 Nghị định 10.

Do vấn đề của chị D. pháp luật chưa quy định nên để giải quyết nguyện vọng chính đáng và nhân đạo, chị D. và bà Huyền cần có đơn gửi Chính phủ, Bộ Y tế và Bộ Tư pháp để nhờ xem xét, giúp đỡ, tháo gỡ những vướng mắc trên.

Người viết tin rằng, vì lý do nhân đạo, Chính phủ, Bộ Y tế và Bộ Tư pháp sẽ có những xem xét thấu đáo. Đồng thời, do việc này phát sinh các mối quan hệ về thừa kế, hộ tịch, công nhận cha cho con nên bà Huyền và chị D. cần có những văn bản thỏa thuận giữa các bên, tránh phát sinh những tranh chấp về sau nếu được cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho chị D. nhận tinh trùng để sinh con cho anh T.

Về lâu dài, do đây là vấn đề phát sinh từ thực tiễn cuộc sống nên cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung Nghị định 10 theo hướng mở hơn, cho cả những trường hợp sống chung nhưng chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn. Việc cho nhận tinh trùng, noãn trong trường hợp này nên ràng buộc thêm điều kiện là gia đình người đã chết đồng ý, người chết là con duy nhất.     


Xem thêm về Công ty:

CÔNG TY LUẬT TNHH LUẬT SƯ RIÊNG

Địa chỉ: 16 Nguyễn Quý Cảnh, phường An Phú, Quận 2, TP.HCM

Điện thoại: 0966 2888 55

Hotline: 1900 2525 03 (Nhánh 2)

Email: info@luatsurieng.net

Website: www.luatsurieng.net