Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai theo Luật đất đai 2013

Tranh chấp đất đai (TCĐĐ) là loại tranh chấp phổ biến nhất trong thực tiễn xét xử hiện nay, vì vậy nhà làm luật quy định hòa giải là một thủ tục mang tính chất bắt buộc trước khi xét xử tại Tòa án là điều cần thiết. Luật Đất đai (LĐĐ) năm 2013 bên cạnh việc thừa kế quy định này từ LĐĐ năm 2003 cũng đã có những điểm mới sửa đổi, bổ sung cụ thể và thiết thực hơn.

Cụ thể, hòa giải tranh chấp đất đai được quy định tại điều 202 Luật Đất đai 2013 và tại điều 88 Nghị định số 43/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Thứ nhất, nhà làm luật đã quy định thời hạn giải quyết thủ tục hòa giải TCĐĐ tại Ủy ban nhân dân cấp xã là 45 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu TCĐĐ, là thời hạn dài hơn so với LĐĐ năm 2003, do TCĐĐ là loại tranh chấp có tính chất phức tạp, vì vậy quy định này là phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Thứ hai, LĐĐ 2013 quy định cụ thể và chi tiết hơn trách nhiệm của Ủy ban nhân dân cấp xã trong việc thực hiện thủ tục hòa giải, bao gồm việc thẩm tra, xác minh, thu nhập giấy tờ, tài liệu; thành lập Hội đồng hòa giải và tổ chức cuộc họp hòa giải. Quy định cụ thể hóa này nhằm góp phần đảm bảo việc hòa giải được triển khai một cách hiệu quả trên thực tế.

Thứ ba, tại Điểm b, Khoản 1 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định cụ thể thành phần Hội đồng hòa giải trong khi theo LĐĐ 2003 thì điều này chỉ quy định một cách chung chung. Quy định mới này góp phần làm cho thủ tục hòa giải được chặt chẽ hơn, đặc biệt quy định thành phần Hội đồng hòa giải bao gồm cả đại diện của một số hộ dân sinh sống lâu đời tại xã, phường, thị trấn biết rõ về nguồn gốc và quá trình sử dụng đối với thửa đất, khi những người này có thể là những người đưa ra ý kiện, nhận định và có ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả hòa giải, đặc biệt là những TCĐĐ xảy ra tại nông thôn, nơi mà tính gắn kết cộng đồng cao và các quy tắc đạo đức hầu như không thay đổi.

Thứ tư, "việc hòa giải chỉ được tiến hành khi các bên tranh chấp đều có mặt, trường hợp một trong các bên tranh chấp vắng mặt đến lần thứ hai thì được coi là việc hòa giải không thành". Đây là quy định hoàn toàn mới và tiến bộ so với LĐĐ 2003, quy định này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích các bên đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong việc hạn chế một trong các bên không có thiện chí hòa giải, cố tình không tham gia cuộc họp hòa giải và làm kéo dài thời gian mà bên còn lại cũng không thể khởi kiện ra Tòa án do không lập được biên bản hòa giải.

Thứ năm, nội dung và hình thức của Biên bản hòa giải cũng được quy định cụ thể hơn, đây là căn cứ để Tòa án xem xét tính hợp pháp của Biên bản hòa giải, hạn chế một số trường hợp như trước đây Tòa án trả lại đơn khởi kiện do Biên bản hòa giải không đạt yêu cầu mà không có căn cứ pháp lý cụ thể.

Thứ sáu, để giải quyết dứt điểm việc hòa giải tại UBND cấp xã, khoản 3 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP có quy định bổ sung: "Sau thời hạn 10 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà các bên tranh chấp có ý kiện bằng văn bản về nội dung khác với nội dung đã thống nhất trong biên bản hòa giải thành thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lại cuộc họp Hội đồng hòa giải để xem xét giải quyết đới với ý kiến bổ sung và phải lập biên bản hòa giải thành hay không thành". Quy định này nhằm tránh việc hòa giải kéo dài, nâng cao hiệu quả giải quyết tại UBND cấp xã trước khi đưa ra xét xử tại Tòa án.

Thứ bảy, thực tế tồn tại việc sau khi hòa giải TCĐĐ thành mà một trong các bên đương sự lại thay đổi ý kiến, vậy lúc này UBND xã có phải tiến hành hòa giải lại hay không hay trực tiếp gửi đơn đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để giải quyết vấn đề này tại Khoản 4 Điều 88 Nghị định 43/2014/NĐ-CP đã có quy định: "Trường hợp hòa giải không thành hoặc sau khi hòa giải thành mà có ít nhất một trong các bên thay đổi ý kiến về kết quả hòa giải thì Ủy ban nhân dân cấp xã lập biên bản hòa giải không thành và hướng dẫn các bên tranh chấp gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp tiếp theo". Quy định cụ thể này bên cạnh việc ghi nhận trách nhiệm của UBND cấp xã còn góp phần đẩy nhanh tiến trình giải quyết TCĐĐ trên thực tế.

Có thể nhận thấy rằng những quy định mới về hòa giải TCĐ trong LĐĐ năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP mang tính toàn diện và phù hợp với thực tiễn hơn, góp phần nâng cao tính hiệu quả của hòa giải tại UBND cấp xã, tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề đặt ra nhưng chưa được quy định như chưa có một cơ chế đối với UBND cấp xã để đảm bảo việc các bên thực hiện đúng theo kết quả hòa giải thành; hay trong trường hợp việc hòa giải kéo dài dẫn đễn việc hết thời hiệu khởi kiện làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của đương sự.

LUẬT SƯ RIÊNG với động ngũ Luật sư, Chuyên gia, chuyên viên nhuần nhuyễn pháp luật, giàu kinh nghiệm, chúng tôi cung cấp cho Quý khách hàng những dịch vụ nhằm bảo vệ quyền lợi trong tranh chấp thừa kế như sau:

-   Tư vấn các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp thừa kế có yếu tố nước ngoài;

-   Theo yêu cầu của khách hàng, chúng tôi sẽ làm việc với các bên liên quan để thỏa thuận giải quyết tranh chấp;

-   Bảo vệ quyền lợi của khách hàng với vai trò luật sư hoặc đại diện quý khách tham gia tố tụng tại tòa án các cấp;

-   Tư vấn, hỗ trợ khách hàng thu thập hồ sơ, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện;

-   Soạn thảo đơn khỏi kiện và các đơn thư, văn bản cần thiết khác theo quy định của pháp luật;

-   Hỗ trợ, cùng khách hàng chuẩn bị bộ hồ sơ khởi kiện và yêu cầu Tòa án có thẩm quyền thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật;

-   Thay mặt Quý khách hàng kiến nghị , yêu cầu Tòa thực hiện các công việc cần thiết để đảm bảo quyền lợi của khách hàng tại Tòa các cấp;

-   Trong phạm vi pháp luật cho phép, thực hiện mọi công việc cần thiết khác để bảo vệ tốt nhất quyền lợi của khách hàng. 

TƯ VẤN TRANH CHẤP THỪA KẾ

         ------------------

Công ty Luật TNHH Luật Sư Riêng

Hotline: 0911 945 499- 0938 483 440

Trụ sở: 25 Vũ Tông Phan-An Phú-Quận 2-TP.HCM

Website: dichuc.net    Email: info@luatsurieng.net